Văn bản & chính sách

VEFTA chưa có ngày hiệu lực: dựng hồ sơ xuất xứ cho hàng đi Thụy Sĩ, Na Uy từ bây giờ

19 tháng 10, 2026 · 9 phút đọc · Dành cho Chuyên giaNhân viênDoanh nghiệp

VEFTA đã ký ngày 18/10 nhưng chưa có ngày hiệu lực; thuế bằng không chỉ dành cho hàng chứng minh được xuất xứ. Cách dựng bảng nguyên liệu, tính cộng gộp, De Minimis và giữ hồ sơ trong lúc chờ.

Sáng Chủ nhật 18/10, Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng và đại diện bốn nước EFTA ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA (VEFTA) tại Hà Nội. Theo Báo Chính phủ, các nước EFTA tiếp tục xóa hoàn toàn thuế nhập khẩu với hàng công nghiệp và thủy sản có xuất xứ Việt Nam ngay khi hiệp định có hiệu lực. Chữ quyết định ở đây là "có xuất xứ Việt Nam": thuế bằng không chỉ đến với lô hàng chứng minh được xuất xứ. Hiệp định chưa có hiệu lực và chưa nguồn nào nêu ngày, nên khoảng chờ này là lúc dựng hồ sơ xuất xứ.

Đã ký, chưa hiệu lực: nên tính gì và không nên tính gì

Ký chỉ là bước đầu; các bên còn phải hoàn tất thủ tục để đưa hiệp định vào thực thi. Theo VnEconomy, khi hội kiến Tổng thống Thụy Sĩ, Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị hai nước sớm đưa hiệp định vào thực thi, và khi tiếp Thủ tướng Liechtenstein, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên sớm hoàn tất thủ tục. Ai báo cho khách một ngày hưởng thuế cụ thể lúc này là đang đoán.

Về quy mô thương mại, mỗi nguồn nêu một con số khác nhau và không nên trộn. Bài tường thuật lễ ký của Báo Chính phủ nói kim ngạch song phương trung bình gần 2 tỷ đô mỗi năm. Một bài khác của Báo Chính phủ nói năm 2025 hai chiều đạt 4,8 tỷ euro, Việt Nam thặng dư 2,5 tỷ euro. Tổng thống Parmelin nói riêng thương mại Việt Nam – Thụy Sĩ năm 2025 gần 3,5 tỷ đô. Khi viết báo giá hay đề xuất với khách, ghi rõ số nào, của ai, năm nào.

EFTA gồm Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sĩ, không thuộc EU, nên EVFTA không áp dụng cho họ. Mỗi hiệp định có một bộ quy tắc xuất xứ riêng; không mang bộ hồ sơ EVFTA sang VEFTA theo thói quen.

Ba tầng của "có xuất xứ"

Một lô hàng được coi là có xuất xứ khi đạt một trong các tiêu chí của hiệp định cho đúng mã HS của nó. Với đa số FTA, có ba tiêu chí cơ bản:

  • Xuất xứ thuần túy (WO): hàng được nuôi, trồng, khai thác hoàn toàn trong nước, không có đầu vào nước ngoài. Tiêu chí này tất cả hoặc không có gì.
  • Chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC): nguyên liệu không có xuất xứ phải đổi mã HS ở mức quy định khi thành phẩm ra đời.
  • Hàm lượng giá trị khu vực (RVC): phần giá trị tạo ra trong khu vực phải đạt tỷ lệ tối thiểu.

Theo Báo Chính phủ, VEFTA quy định tiêu chí xuất xứ theo từng nhóm hàng, phương thức chứng nhận xuất xứ và các quy định về gia công, chế biến. Tiêu chí cụ thể của từng mã HS phải chờ văn bản chi tiết cho từng nhóm hàng. Từ giờ tới lúc đó, việc đáng làm là chuẩn bị dữ liệu để tính được cả CTC lẫn RVC: mã HS của thành phẩm, mã HS và trị giá từng nguyên liệu, nước xuất xứ của nguyên liệu.

Cộng gộp: vì sao vải nhập vẫn có thể tính vào

Cộng gộp (cumulation) cho phép coi nguyên liệu có xuất xứ của nước thành viên khác trong cùng hiệp định là nguyên liệu có xuất xứ khi tính CTC hoặc RVC. Theo Báo Chính phủ, VEFTA cho cộng gộp giữa các nước EFTA và Việt Nam. Hiệp định còn cho cộng gộp mở rộng với nguyên liệu phi nông nghiệp có xuất xứ từ ASEAN hoặc EU, nếu các nước đó có hiệp định thương mại ưu đãi với EFTA.

Hai nguyên tắc cộng gộp của RCEP theo Điều 7 Thông tư 05/2022 của Bộ Công Thương, nêu ở đây để minh họa; VEFTA có áp dụng y như vậy hay không phải chờ văn bản chi tiết:

  • Nguyên liệu phải tự nó đã có xuất xứ hợp lệ theo đúng quy tắc của hiệp định đang xét. Nguyên liệu chưa xác định được xuất xứ, hoặc có xuất xứ ngoài khối, không được cộng gộp dù nước bán nằm trong khu vực quen thuộc.
  • Mỗi hiệp định một bộ quy tắc. Chứng nhận xuất xứ theo hiệp định này không đương nhiên dùng được để cộng gộp cho hiệp định khác. Sợi Malaysia kèm C/O Form D (ATIGA) không tự động được cộng gộp khi xét xuất xứ AANZFTA.

Điều kiện cụ thể của cộng gộp mở rộng trong VEFTA phải chờ văn bản chi tiết. Do đó, doanh nghiệp may mặc, giày dép, đồ gỗ dùng nguyên liệu ASEAN chưa nên tính ưu đãi cho hàng ghép nguyên liệu từ nhiều nước.

De Minimis: ngoại lệ nhỏ chỉ cho CTC

De Minimis là quy định khoan dung: nếu nguyên liệu không có xuất xứ và không đạt CTC vẫn nằm dưới một ngưỡng nhỏ, lô hàng vẫn được coi là đạt CTC. Ở các FTA Việt Nam đang áp dụng, nó chỉ cứu tiêu chí CTC, không áp dụng cho RVC hay WO. Ngưỡng do từng hiệp định quy định. Theo Điều 11 Thông tư 05/2022, RCEP dùng 10% trị giá FOB, riêng hàng dệt may Chương 50–63 dùng 10% tổng trọng lượng. Ngưỡng của VEFTA phải chờ văn bản chi tiết, nên con số RCEP dưới đây chỉ là để minh họa cách tính.

Ví dụ giả định: lô áo sơ mi, bảng nguyên liệu trước khi có văn bản

Giả định một xưởng may chuẩn bị lô áo sơ mi trọng lượng 2.000 kg bán cho khách ở Thụy Sĩ. Nhân viên chứng từ dựng bảng nguyên liệu như sau:

Nguyên liệu Nơi mua Việc cần có trong hồ sơ
Vải chính Nhập từ một nước ASEAN Chứng từ xuất xứ của vải, hóa đơn, mã HS
Chỉ may, nhãn, khuy Nhập từ nước thứ ba Mã HS, trọng lượng, hóa đơn
Cắt may, hoàn thiện Tại xưởng Lệnh sản xuất, bảng định mức

Giả sử chỉ may, nhãn và khuy nặng tổng cộng 150 kg và không đạt CTC. Nếu áp dụng cách tính De Minimis của RCEP cho hàng dệt may, tỷ lệ là 150 / 2.000 × 100% = 7,5%, dưới ngưỡng 10% trọng lượng. Với VEFTA, chỉ khi đọc văn bản chi tiết mới biết ngưỡng và cách tính có giống vậy hay không. Phần vải ASEAN thì quyết định cuối cùng nằm ở điều kiện cộng gộp mở rộng: nếu đủ điều kiện, vải có thể được tính vào; nếu không, vải là nguyên liệu không có xuất xứ và có thể kéo cả lô ra khỏi diện ưu đãi.

Bảng này chưa kết luận gì về ưu đãi, nhưng khi văn bản chi tiết ra, xưởng chỉ cần điền tiêu chí vào bảng thay vì đi gom chứng từ.

Chứng nhận xuất xứ: chưa biết VEFTA dùng C/O hay tự chứng nhận

Theo Báo Chính phủ, hiệp định có quy định về phương thức chứng nhận xuất xứ; VEFTA dùng C/O hay tự chứng nhận thì phải chờ văn bản chi tiết. Hiện có hai cách phổ biến ở các FTA Việt Nam tham gia: xin C/O cho từng lô từ cơ quan được ủy quyền, hoặc tự chứng nhận. Ba cơ chế tự chứng nhận đang chạy là Bản khai báo xuất xứ của CPTPP, mã số REX của EVFTA và AWSC của ATIGA. Ba cơ chế không thay thế nhau: mỗi hiệp định có mẫu câu chữ, điều kiện đăng ký và cơ quan quản lý riêng, và dùng nhầm mẫu có thể khiến hải quan nước nhập khẩu từ chối ưu đãi dù xuất xứ thực tế đúng.

Điều chắc chắn ở mọi cơ chế: tự chứng nhận đặt trách nhiệm lên chính doanh nghiệp. Khai sai thì doanh nghiệp tự chịu, không đổ được cho cơ quan cấp C/O.

Hồ sơ phải giữ và bị hỏi lúc nào

Theo nguyên tắc chung của Việt Nam tại Điều 30 Nghị định 31/2018 (VEFTA có thể đặt thời hạn riêng), hồ sơ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu và chứng từ sản xuất phải lưu tối thiểu 5 năm, để trả lời khi có yêu cầu xác minh xuất xứ, kể cả sau khi hàng đã thông quan. Bộ hồ sơ nên tổ chức theo lô: tờ khai xuất khẩu, hóa đơn, định mức nguyên liệu, chứng từ xuất xứ nguyên liệu, lệnh sản xuất, bảng tính tiêu chí. Khi người mua Thụy Sĩ hỏi giấy tờ, họ là bên trực tiếp được giảm thuế nên thường là người hỏi trước.

Checklist

  • Lấy danh sách mã HS đang bán sang Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và tra mức thuế hiện hành của từng dòng ở biểu thuế nước nhập khẩu.
  • Lập bảng nguyên liệu cho từng sản phẩm chính: mã HS, nước xuất xứ, trị giá, trọng lượng, nhà cung cấp.
  • Đánh dấu nguyên liệu từ ASEAN và EU; hỏi nhà cung cấp họ có chứng từ xuất xứ nào.
  • Tách nguyên liệu nhập từ nước ngoài khối: đây là phần De Minimis và CTC phải kiểm tra.
  • Kiểm tra lưu trữ: chứng từ sản xuất và nguyên liệu giữ tối thiểu 5 năm theo Nghị định 31/2018, tìm được theo lô.
  • Nói chuyện với khách ở Thụy Sĩ, Na Uy từ bây giờ về cách họ cần chứng từ xuất xứ.
  • Báo giá đi Thụy Sĩ theo hai chặng, vì hiệp định giảm thuế chứ không giảm cước chặng cuối.
  • Không hứa ngày hưởng thuế cho khách; chờ văn bản chi tiết và ngày hiệu lực.

Nguồn

Bài cùng chuyên mục