Posts are in Vietnamese.

Tầm nhìn

Tàu chờ ngoài eo Hormuz trễ thêm: tính lại tồn kho an toàn khi lead time dao động

Mìn gắn thân tàu và khuyến cáo tính thêm thời gian ở Hormuz làm lead time dao động hơn. Cách tính lại tồn kho an toàn và điểm đặt hàng lại cho hàng nhập, kèm ví dụ giả định.

31 tháng 10, 2026 · 8 min read · For Doanh nghiệpChuyên giaNhân viên

Ngày 29 tháng 10, một xuồng nhỏ gắn hai thiết bị nổ lên thân một tàu dầu rời eo Hormuz, cách Khasab của Oman khoảng 25 hải lý. Theo gCaptain, UKMTO đã xác nhận vụ việc, và các nguồn an ninh hàng hải cho biết đây là lần đầu kiểu tấn công mìn gắn thân tàu thành công ở eo biển này kể từ khi chiến sự nổ ra hồi tháng 2. Cùng tuần, Bộ chỉ huy Hải quân Trung tâm của Mỹ khuyên tàu đi lại trong khu vực phải tính thêm thời gian hành trình. Với người nhập nguyên liệu, câu hỏi thực tế không phải tàu nào bị tấn công, mà là lô hàng tới trễ bao nhiêu ngày và kho còn chịu được bao lâu.

Điều đổi là lead time, không phải nhu cầu

Theo ước tính của JMIC, trung tâm thông tin hàng hải, tính đến ngày 25 tháng 10 có khoảng 492 tàu đang chờ bên ngoài eo Hormuz, tập trung quanh Fujairah và Khor Fakkan. Ông Martin Kelly của EOS Risk Group cảnh báo hệ quả có thể đặc biệt nghiêm trọng với tàu thả neo chờ, vì mìn có thể được gắn dưới mớn nước mà thủy thủ không hay biết. Theo UKMTO, số lượt tàu qua eo vẫn nhích lên, 122 lượt ra và 155 lượt vào trong bảy ngày gần nhất, nhưng tổng cộng còn thấp hơn trước chiến sự khoảng 70%.

Với doanh nghiệp nhập hạt nhựa, hóa chất hay nguyên liệu từ vùng Vịnh, nhu cầu bán hàng của chính mình không đổi vì chuyện đó. Cái đổi là thời gian từ lúc đặt hàng tới lúc hàng nằm trong kho (lead time), và quan trọng hơn là mức dao động của nó, ví dụ lô này trễ ba ngày, lô sau trễ tám ngày. Theo Seatrade Maritime, độ tin cậy lịch tàu của các hãng trong tháng 9 chỉ vừa nhích qua 50%, nên lịch tàu vốn đã thất thường trên diện rộng, không riêng hàng qua vùng Vịnh.

Tồn kho an toàn hấp thụ phần dao động

Nếu nhu cầu và lead time luôn đúng dự báo, doanh nghiệp chỉ cần đặt vừa đủ để hết hàng đúng lúc lô mới về. Thực tế cả hai đều dao động, và tồn kho an toàn (safety stock) là phần dự trữ để hấp thụ dao động đó. Với hàng nhập khẩu, dao động lead time thường lớn hơn dao động nhu cầu, vì lead time phụ thuộc lịch tàu, thủ tục hải quan và tình trạng cảng, những thứ doanh nghiệp không kiểm soát.

Công thức phổ thông trong sách giáo khoa chỉ tính dao động nhu cầu: SS = Z × σd × √LT, trong đó Z là hệ số ứng với mức phục vụ mục tiêu (95% ứng với Z khoảng 1,65; 97,5% ứng với khoảng 1,96; 99% ứng với khoảng 2,33), σd là độ lệch chuẩn của nhu cầu ngày, LT là lead time tính bằng ngày. Công thức này giả định lead time cố định. Với hàng đi qua vùng đang có chiến sự, giả định đó sai ngay từ đầu.

Khi cả hai cùng dao động, dùng biến thể: SS = Z × √(LT × σd² + d² × σLT²). Ở đây d là nhu cầu trung bình ngày, σLT là độ lệch chuẩn của lead time. Điểm đặt hàng lại (reorder point) là mức tồn kho mà tại đó phải đặt đơn mới: ROP = d × LT + SS. Số hạng d² × σLT² là phần phình ra khi lead time dao động mạnh, và nó tăng theo bình phương của σLT.

Ví dụ giả định: nhà máy nhập hạt nhựa

Ví dụ giả định cho một nhà máy ép nhựa ở Bình Dương nhập hạt nhựa từ một cảng vùng Vịnh. Nhu cầu trung bình d = 20 tấn mỗi ngày, độ lệch chuẩn nhu cầu σd = 4 tấn, mức phục vụ mục tiêu 95% (Z khoảng 1,65). Trước tuần này lead time trung bình 30 ngày, độ lệch chuẩn 3 ngày.

Tồn kho an toàn: 1,65 × √(30 × 16 + 400 × 9) = 1,65 × √4.080, khoảng 105 tấn. Điểm đặt hàng lại: 20 × 30 + 105 = 705 tấn.

Giờ giả định phòng mua nhận thấy tàu mẹ chờ thêm, lead time trung bình lên 35 ngày và dao động rộng hơn, độ lệch chuẩn 6 ngày. Tồn kho an toàn: 1,65 × √(35 × 16 + 400 × 36) = 1,65 × √14.960, khoảng 202 tấn. Điểm đặt hàng lại: 20 × 35 + 202 = 902 tấn.

Trước Sau
Lead time trung bình 30 ngày 35 ngày
Độ lệch chuẩn lead time 3 ngày 6 ngày
Tồn kho an toàn khoảng 105 tấn khoảng 202 tấn
Điểm đặt hàng lại 705 tấn 902 tấn

Nếu chỉ cộng 5 ngày vào lead time trung bình mà giữ độ lệch chuẩn 3 ngày, tồn kho an toàn gần như đứng yên ở khoảng 106 tấn và điểm đặt hàng lại chỉ lên 806 tấn. Chênh với 902 tấn là 96 tấn, tức nhà máy đặt đơn trễ gần năm ngày tiêu thụ. Sai lầm điển hình là chỉnh con số trung bình mà quên chỉnh độ dao động.

Cái giá của phần đệm thêm

Trong ví dụ trên, phần đệm tăng thêm khoảng 97 tấn (202 trừ 105). Giữ hàng có giá: chi phí lưu giữ gồm vốn bị chôn, kho bãi, hao hụt, bảo hiểm và rủi ro lỗi thời, thường tính bằng một tỷ lệ phần trăm trên giá trị tồn kho bình quân mỗi năm. Giả định hạt nhựa giá 30 triệu đồng một tấn và chi phí lưu giữ 15% mỗi năm. Khi đó 97 tấn là 2,91 tỷ đồng vốn, và chi phí lưu giữ khoảng 437 triệu đồng một năm, tức khoảng 36 triệu đồng một tháng.

Phía bên kia là chi phí thiếu hàng: mất doanh thu của đơn bị trễ, đặt gấp với giá cao hơn, và uy tín với khách. Giả định một ngày dừng chuyền làm nhà máy mất 400 triệu đồng. Nếu rủi ro trễ kéo dài hai tháng, phần đệm thêm tốn khoảng 73 triệu đồng, chưa bằng một ngày dừng chuyền. Đưa đề xuất lên ban giám đốc bằng đồng tổn thất tránh được thuyết phục hơn nói bằng xác suất.

Đừng hiểu tồn kho an toàn là phần dư để cắt khi cần tiết kiệm vốn lưu động. Cắt mà không đánh giá lại dao động thì xác suất hết hàng tăng thẳng.

Không mã hàng nào cũng cần tăng

Tồn kho an toàn tăng theo Z: từ mức phục vụ 95% (Z khoảng 1,65) lên 99% (Z khoảng 2,33) là gấp khoảng 1,4 lần, kéo theo chi phí lưu giữ. Không có mức đúng chung cho mọi mã hàng. Mã hàng mà thiếu là dừng cả dây chuyền hoặc mất đơn lớn đáng mức phục vụ cao; mã hàng chỉ gây trễ nhẹ thì không cần trả giá đó.

Cũng đừng dùng số trong ví dụ trên như chuẩn: nhu cầu, lead time, giá và chi phí chỉ để minh họa cách tính; độ lệch chuẩn lead time phải lấy từ lịch sử các lô thật của chính doanh nghiệp, tính từ ngày đặt đến ngày hàng vào kho. Nguồn tuyến nào có lịch tàu đúng hẹn thì công thức sẽ tự cho đệm nhỏ.

Việc cần làm

  • Lập bảng các lô nhập từ vùng Vịnh trong 12 tháng gần nhất với ngày đặt, ngày hàng vào kho, từ đó tính lead time trung bình và độ lệch chuẩn thật.
  • Chia mã hàng theo hậu quả khi thiếu: dừng chuyền, mất đơn lớn, hay chỉ trễ; chọn mức phục vụ riêng cho từng nhóm.
  • Tính lại tồn kho an toàn và điểm đặt hàng lại bằng công thức có σLT, không dùng công thức chỉ có nhu cầu.
  • Với lô đã lên tàu, lấy tồn kho hiện tại chia cho nhu cầu ngày để biết kho chịu được bao nhiêu ngày, rồi đặt cạnh ngày hàng về mới mà forwarder xác nhận.
  • Quy đổi phần đệm thêm ra tiền: giá trị tồn kho tăng, chi phí lưu giữ một tháng, so với tổn thất một ngày dừng chuyền.
  • Viết ngưỡng kích hoạt đo được, ví dụ lô trễ quá số ngày nhất định so với lịch, và ghi chức danh được quyết định đặt thêm đơn hoặc đổi nguồn.
  • Hỏi forwarder lịch tàu mẹ có phải chờ ngoài eo không và phụ phí rủi ro chiến tranh đang áp thế nào, rồi cập nhật lead time khi có tin mới.
  • Soát lại sau mỗi kỳ đánh giá: dao động, chi phí và mức phục vụ đều đổi theo thời gian.

Sources